CNSH lĩnh vực khác
Ứng dụng công nghệ sinh học trong công nghiệρ chế biến
(vjst.vn/ - 24/07/2020):

Những năm gầnđây, việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu - ứng dụng các thành tựu khoa học vàcông nghệ (KH&CN), đặc biệt là công nghệ sinh học (CNSH) vào sản xuất vàđời sống được nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm. Nhận thức đượctầm quan trọng của CNSH trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, ngày4/3/2005, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Chỉ thị số 50-CT/TW vềviệc đẩy mạnh phát triển và ứng dụng CNSH phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước. Chỉ thị đã xác định ứng dụng CNSH trong lĩnh vực côngnghiệp chế biến giữ một vị trí quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển hànghóa nội địa, cải tiến công nghệ, đưa các công nghệ mới, có hiệu quả cao vàothực tiễn sản xuất…

Nắm bắt được nhu cầu thực tế trongnước cũng như xu hướng phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giớiđối với việc ứng dụng CNSH trong các ngành công nghiệp chế biến, đồng thời thựchiện có hiệu quả Chỉ thi số 50/CT/TW của Ban Bí thư, Bộ Công Thương đã nghiêncứu xây dựng Đề án phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực công nghiệp chế biếnđến năm 2020 và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt triển khai tại Quyết định số14/2007/QĐ-TTg ngày 25/1/2007 (sau đây gọi tắt là Đề án).

Mục tiêu của Đề án là nghiên cứu tạora các CNSH tiên tiến ở trong nước, kết hợp với việc nhập khẩu các CNSH hiệnđại của nước ngoài, ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả các công nghệ này trongcông nghiệp chế biến thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng nhằm nâng cao chấtlượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm chế biến, phục vụ tốt nhu cầu tiêudùng trong nước và xuất khẩu.

Để triển khai Chỉ thị số 50 CT/TW vàQuyết định số 14/2007/QĐ-TTg có hiệu quả, Bộ Công Thương đã chủ động thành lậpBan Điều hành Đề án cũng như ban hành các quy chế hoạt động, tuyển chọn, quảnlý các nhiệm vụ KH&CN và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc triển khai theo quyđịnh.

Những kết quả nổi bật

Về hoạt độngnghiên cứu - triển khai

Đề án đã chủ động khảo sát nhu cầuthực tế sản xuất - kinh doanh các sản phẩm CNSH trong lĩnh vực công nghiệp chếbiến, kịp thời định hướng triển khai đặt hàng các nhiệm vụ bám sát nhu cầu pháttriển trong nước, tập trung vào các lĩnh vực như: (1) Ứng dụng công nghệ, thiếtbị lên men vi sinh để sản xuất, chế biến thực phẩm; (2) Ứng dụng CNSH để sảnxuất các chế phẩm vi sinh phục vụ công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi; (3) Ứngdụng CNSH để sản xuất, chế biến nguyên liệu hoá dược; (4) Ứng dụng CNSH để sảnxuất các chế phẩm vi sinh, enzyme phục vụ công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng;(5) Ứng dụng công nghệ enzyme để sản xuất, chế biến thực phẩm; thiết kế, sảnxuất thiết bị chế biến thực phẩm. Các đề tài/dự án tiêu biểu được triển khaitrong các lĩnh vực có thể kể đến gồm:

Ứng dụng công nghệ, thiết bị lên menvi sinh để sản xuất, chế biến thực phẩm:dự án sản xuất thử nghiệm “Hoàn thiện công nghệ sản xuất rượu Brandy trái cây(vải, dứa) ở quy mô công nghiệp” do Công ty TNHH MTV bia rượu Eresson chủ trìthực hiện đã nghiên cứu tuyển chọn được chủng nấm men S. cerevisiae RV6 và S.cerevisiae RV100 phù hợp để lên men rượu Brandy từ nguyên liệu vải và dứa tươngứng. Các chủng nấm men này có các đặc tính công nghệ tốt, như có khả năng lênmen tạo độ cồn cao, sinh ít SO2, tạo axít axetic dưới ngưỡng chophép, có khả năng tạo rượu bậc cao và este với tỷ lệ phù hợp, tạo được hương vịđặc trưng cho từng sản phẩm (vải hoặc dứa). Dự án đã hoàn thiện được các thôngsố kỹ thuật trong các giai đoạn (chế biến nguyên liệu, lên men, chưng cất, tàngtrữ, hoàn thiện sản phẩm) của quy trình công nghệ sản xuất Brandy vải và Brandydứa quy mô 1.000 lít và 15.000 lít. Từ đó xây dựng được quy trình công nghệ sảnxuất Brandy vải và Brandy dứa quy mô 200.000 lít sản phẩm/năm (mỗi loại). Đãthiết kế, lắp đặt và hoàn thiện hệ thống thiết bị sản xuất Brandy vải và Brandydứa quy mô 200.000 lít/năm mỗi loại. Sản phẩm Brandy vải và Brandy dứa đã đượckhách hàng đánh giá tích cực và từng bước chiếm lĩnh thị trường. Đề tài “Nghiêncứu sản xuất một số thực phẩm lên men từ thịt lợn, thịt bò” do Viện Công nghệsinh học và Công nghiệp thực phẩm (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) chủ trìthực hiện cũng là một điển hình cho lĩnh vực này. Từ 9 chủng trong bộ chủnggiống có nguồn gốc từ nem chua, xúc xích lên men tự nhiên và từ các bộ sưu tậpcủa nước ngoài, các nhà khoa học trong nước đã tuyển chọn được 3 chủng vi khuẩnlactic có hoạt tính sinh học tốt nhất, đó là Lactobacillus plantarum H1.40,Lactobacillus sakei DSM 6333 và Lactobacillusplantarum H1.4. Đề tài đã hoànthiện quy trình công nghệ sản xuất xúc xích lên men khô và bán khô; hoàn thiệnquy trình công nghệ sản xuất thịt lợn muối chua (từ lợn lửng và lợn lai kinhtế), từ đó xây dựng mô hình và thiết bị sản xuất 3 sản phẩm thịt lên men: xúcxích lên men khô, bán khô, thịt lợn muối chua năng suất 200 kg/mẻ. Hiện nay,công nghệ của đề tài đã được Công ty Cổ phần chế biến thực phẩm nông sản xuấtkhẩu Nam Định tiếp tục áp dụng để sản xuất ở quy mô công nghiệp với công suất500 kg/mẻ.

Ứng dụng CNSH để sản xuất các chếphẩm vi sinh phục vụ công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi: dự án “Hoàn thiện công nghệ sản xuất thức ăn nuôi cáchình” do Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 3 thực hiện đã nghiên cứu thànhcông mô hình thiết bị dây chuyền sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi cá chìnhnăng suất 500 kg/giờ, cá chình giống ăn thức ăn của dự án có tốc độ tăng trưởngđạt 0,68 g/ngày, tỷ lệ sống 95,82%; nuôi thương phẩm đạt 3,32 g/ngày, tỷ lệsống 94,73%. Đề tài đã chế tạo thành công dây chuyền sản xuất thức ăn côngnghiệp công suất 1.000 tấn/năm với chi phí thấp hơn thức ăn nhập từ Trung Quốckhoảng 25%. Công nghệ của dự án đã được chuyển giao cho nhiều doanh nghiệp ápdụng để sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi cá chình, giảm sự phụ thuộc vào nguồnthức ăn nhập khẩu.

Ứng dụng CNSH để sản xuất, chế biếnnguyên liệu hoá dược: đề tài “Nghiên cứu ứng dụngendo-xylanase để sản xuất arabinoxylan từ cám gạo làm thực phẩm chức năng” doTrường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) chủ trì thực hiện đãxây dựng và hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất thực phẩm chức năng chứaarabinoxylan kết hợp với bào tử Bacillus subtilis lợi khuẩn. Đã sản xuất thànhcông 3 loại thực phẩm chức năng gồm: Immunobran dạng viên nang, SppbioImmunobran và Sppbio Immunobran kids dạng bột, góp phần quan trọng giúp cácdoanh nghiệp chủ động sản xuất nguồn thực phẩm chức năng giá rẻ, chất lượng tốtcho những người mắc bệnh hiểm nghèo như ung thư, HIV/AIDS, viêm gan.

Ứng dụng CNSH để sản xuất các chếphẩm vi sinh, enzym phục vụ công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng: dự án “Sản xuất thử nghiệm chế phẩm isoflavone và thựcphẩm chức năng giàu isoflavone từ đậu tương” do Công ty Cổ phần phát triển thựcphẩm quốc tế chủ trì thực hiện đã xây dựng được quy trình công nghệ sản xuấtchế phẩm isoflavone 40%, chế phẩm isoflavone 5% và thực phẩm chức năng giàuisoflavone (Menoposal). Trong từng công đoạn, từ xây dựng tiêu chuẩn nguyênliệu, trích ly, thu nhận Isoflavone, công thức tạo sản phẩm đều được nghiên cứuđầy đủ với các thông số kỹ thuật chi tiết. Dự án đã tạo ra được sản phẩm cóchất lượng cao, có thể so sánh với các sản phẩm tương tự của nước ngoài. Đặcbiệt, với việc hoàn thiện công nghệ sản xuất theo quy mô công nghiệp, dự án đãgóp phần quan trọng trong việc tận dụng nguồn nông sản trong nước, góp phần tạocông ăn việc làm và đầu ra cho cây đậu tương, giúp nâng cao thu nhập, cải thiệnđời sống cho bà con nông dân tại các vùng Tây Bắc, bắc Hoàng Liên Sơn, Đông Bắc,Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông NamBộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

Ứng dụng công nghệ enzym để sảnxuất, chế biến thực phẩm: dự án “Sảnxuất một số sản phẩm thực phẩm từ nhuyễn thể bằng công nghệ sinh học” do ViệnNghiên cứu hải sản thực hiện đã hoàn thiện công nghệ sản xuất nước uống từ hàu,mực nhồi ăn liền, bột dinh dưỡng từ ngao, bạch tuộc lên men; đã thiết kế môhình hệ thống thiết bị, đào tạo và tổ chức sản xuất thử nghiệm sản phẩm. Sảnphẩm của dự án sau khi hoàn thiện tại phòng thí nghiệm đã được áp dụng triểnkhai thực tế tại Công ty Cổ phần dược và vật tư y tế Quảng Ninh và Công ty TNHHsản xuất và thương mại thủy sản Quảng Ninh. Sản phẩm đạt chất lượng vệ sinh antoàn thực phẩm theo quy định của Bộ Y tế.

Về đầu tư trangthiết bị, hợp tác quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực…

Đề án đã phê duyệt 2/4 dự án đầu tưchiều sâu để nâng cấp và hiện đại hoá các cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo CNSHtrong lĩnh vực công nghiệp chế biến; bổ sung và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹthuật, máy móc, thiết bị cho các phòng thí nghiệm thuộc hệ thống trên nhằm tăngcường năng lực nghiên cứu - triển khai, ứng dụng có hiệu quả các kết quả nghiêncứu vào thực tiễn sản xuất. Đề án đã tổ chức 4 đoàn cán bộ đi công tác nướcngoài để học tập và trao đổi kinh nghiệm về nghiên cứu, ứng dụng CNSH tronglĩnh vực công nghiệp chế biến; tìm hiểu một số cơ sở sản xuất - kinh doanh cácsản phẩm CNSH; tìm hiểu cơ chế, chính sách về hỗ trợ, đầu tư; đề xuất xây dựngphương án hợp tác về nghiên cứu... để phát triển CNSH trong lĩnh vực côngnghiệp chế biến; chủ động tiếp nhận, làm chủ và chuyển giao các CNSH mới, hiệnđại của thế giới để ứng dụng có hiệu quả vào sản xuất thuộc ngành công nghiệpchế biến.

Thông qua quá trình triển khai cácnhiệm vụ KH&CN, Đề án đã đào tạo được 45 TS; 99 ThS và gần 90 kỹ sư, cửnhân (thuộc lĩnh vực công nghệ vi sinh, công nghệ enzyme, công nghệ thực phẩm,công nghệ chế biến thức ăn chăn nuôi và gia súc…). Bên cạnh đó, Đề án đã gópphần đào tạo hàng trăm kỹ thuật viên có tay nghề cao về CNSH trong lĩnh vựccông nghiệp chế biến để triển khai thực hiện các nhiệm vụ KH&CN tại cácdoanh nghiệp và địa phương. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện Đề án đã có 312bài báo được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành trong nước, 37 bài đăngtrên các tạp chí có uy tín quốc tế; đăng ký sở hữu trí tuệ cho hơn 20 kết quảnghiên cứu; tổ chức hàng trăm hội thảo/hội nghị cũng như đẩy mạnh công táctruyền thông về kết quả của Đề án trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Bài học kinh nghiệm và một số đềxuất

Với 144 nhiệm vụ được triển khai từnăm 2007 đến nay, việc phát triển và ứng dụng hiệu quả CNSH vào công nghiệp chếbiến đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các sảnphẩm chế biến, phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Thành công lớn nhất của Đề án chínhlà việc thực hiện công tác xã hội hóa, đặt hàng nhiệm vụ KH&CN với tiêu chíbắt buộc phải có sự tham gia của các doanh nghiệp trong triển khai ứng dụng.Nếu như năm 2007 - năm đầu tiên thực hiện Đề án chỉ có 1 nhiệm vụ được triểnkhai và doanh nghiệp tham gia còn ở quy mô nhỏ thì đến năm 2015, số lượng doanhnghiệp tham gia vào các nhiệm vụ KH&CN đã tăng lên 75% và từ năm 2016 đếnnay, 100% nhiệm vụ KH&CN đã có sự tham gia phối hợp của doanh nghiệp hoạtđộng ở nhiều quy mô khác nhau. Đây chính là cách tiếp cận phù hợp với thực tếhiện nay, nhằm thúc đẩy hợp tác giữa các nhà nghiên cứu tại các viện nghiêncứu, trường đại học với các doanh nghiệp để đưa công nghệ vào sản xuất, pháttriển sản phẩm nội địa bằng chính các nghiên cứu trong nước, rút ngắn thời gianđưa sản phẩm từ nghiên cứu vào thực tiễn. Đối với những nhiệm vụ tuyển chọn,xét chọn để triển khai thực hiện bắt đầu từ năm 2019, Bộ Công Thương đã đẩymạnh công tác triển khai đề tài theo định hướng chuỗi từ công nghệ đến sản phẩmcuối cùng, tất cả các đề tài/dự án được tuyển chọn đều phải tạo ra sản phẩm,hoàn thiện mẫu mã, nhãn mác, công bố chất lượng và bước đầu tiến hành thươngmại hóa, đánh giá khả năng tiếp nhận sản phẩm của thị trường. Đây chính là sựthay đổi rõ rệt đối với điều kiện và phương pháp triển khai nghiên cứu ứngdụng. Đặc biệt, với sự đồng hành của các chuyên gia có trình độ cao, có kinhnghiệm nhiều năm trong công tác quản lý khoa học, sự chỉ đạo sát sao của Lãnhđạo Bộ, Lãnh đạo Vụ KH&CN đã có nhiều doanh nghiệp tham gia thực hiện cácnhiệm vụ KH&CN với vai trò là đơn vị chủ trì triển khai thực hiện. Việcđồng hành giữa đơn vị quản lý nhiệm vụ KH&CN với doanh nghiệp đã kịp thờihỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình hoàn thiện thủ tục hành chính, từ khâuxây dựng thuyết minh, dự toán và triển khai các nội dung của nhiệm vụ theo đúngquy định hiện hành, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc khách quan bắt nguồn từ cơchế chính sách, điều kiện triển khai… cũng như sự thiếu kinh nghiệm, thông tintừ phía doanh nghiệp.

Ngoài ra, thành công của Đề án cònphải kể đến việc tăng cường mạnh tiềm lực cho nghiên cứu khoa học, phát triểnvà ứng dụng CNSH trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, bao gồm: đào tạo nguồnnhân lực có trình độ cao, đào tạo kỹ thuật viên để triển khai và ứng dụng CNSHtại các cơ sở sản xuất, chế biến; tuyển chọn, công nhận đơn vị chủ trì và tiếnhành xây dựng Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ vi sinh; hoàn thành và đưavào sử dụng có hiệu quả Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ enzym và protein;đầu tư chiều sâu để nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng và hiện đại hóamạng lưới các phòng thí nghiệm CNSH trong lĩnh vực công nghiệp chế biến…

Bên cạnh những thành công nêu trêncũng cần thấy rằng, việc phát triển và ứng dụng CNSH tại Việt Nam còn chưatương xứng với tiềm năng và thế mạnh hiện có. Đa phần các doanh nghiệp hoạtđộng trong lĩnh vực CNSH (trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - FDI)chưa có đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực và đặcbiệt là tài chính để tiếp cận CNSH nên chưa mạnh dạn đầu tư mới hoặc nâng cấpcơ sở vật chất hiện có để tiếp cận, tiếp nhận chuyển giao kết quả nghiên cứu.Điều này đã hạn chế việc đẩy nhanh các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sảnxuất, dẫn đến hiệu quả kinh doanh chưa đạt được hiệu quả mong muốn. Bên cạnhđó, cơ chế tài chính áp dụng đối với các nhiệm vụ KH&CN còn nhiều vướngmắc, chưa tạo được động lực cho các nhà khoa học có trình độ cao, đặc biệt làcác chuyên gia quốc tế cùng tham gia nghiên cứu, chuyển giao các tiến bộKH&CN. Ngoài ra, tại nhiều địa phương do điều kiện cơ sở vật chất hạn chế,thiếu nguồn nhân lực về CNSH, tài chính, khả năng tổ chức sản xuất và kinhdoanh nên chưa chủ động tiếp cận, tổ chức nghiên cứu - triển khai các nhiệm vụcủa Đề án theo nhu cầu phát triển và ứng dụng CNSH tại địa phương…

Hiện nay, các hoạt động quản lý củaĐề án đều thực hiện theo các quy định chung của Luật KH&CN, Nghị định số08/2014/NĐ-CP ngày 21/1/2014 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Luật KH&CN và các thông tư quản lý, triển khai nhiệmvụ KH&CN cấp quốc gia do Bộ KH&CN ban hành. Hầu hết các văn bản phù hợpvới thực tế triển khai các nhiệm vụ KH&CN thuộc Đề án. Tuy nhiên, đối vớicác căn cứ trong việc đánh giá nghiệm thu giữa đề tài và dự án sản xuất thửnghiệm còn một số bất cập, gây khó khăn trong việc đánh giá chính xác hiệu quảtriển khai, kết quả đạt được của hai loại nhiệm vụ này. Vì vậy, nên chăng cầnxây dựng lại tiêu chí cụ thể, khác nhau để đánh giá sát hơn việc kết quả thựchiện của đề tài nghiên cứu và dự án sản xuất thử nghiệm.

 

vjst.vn/

 
Tin tức khác
Ứng dụng CNSH trong ngành công nghiệp giấy và ván gỗ nhân tạo
Nghiên cứu sự biểu hiện mRNA một số gen liên quan đến con đường JAK/STAT và biểu hiện viêm ở bệnh nhân ung thư hạch
So sánh các kỹ thuật định danh vi khuẩn B. pseudomallei trong xét nghiệm chẩn đoán bệnh Whitmore
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học u lympho ác tính không Hodgkin vùng đầu cổ
Khối u thiếu dinh dưỡng thu hút các tế bào ức chế miễn dịch
Thông báo
Thông báo chuẩn bị hồ sơ đăng ký giao trực tiếp thực hiện từ năm 2019 thuộc Chương trình CNSH
Thông báo số 1: Hội nghị Công nghệ sinh học toàn quốc – Khu vực phía Nam lần thứ II năm 2011
Quyết định 490/QĐ-BNN-KHCN điều chỉnh cá nhân chủ trì đề tài thuộc “chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và ptnt đến năm 2020”.
THÔNG BÁO TUYỂN CHỌN TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN CHỦ TRÌ NHIỆM VỤ KH&CN
Kết quả khảo nghiệm đánh giá an toàn sinh học đối với đa dạng sinh học và môi trường
Văn bản mới
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông báo giao trực tiếp tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ KHCN...
Quyết định 490/QĐ-BNN-KHCN điều chỉnh cá nhân chủ trì đề tài thuộc “chương trình trọng điểm phát triển...
Quyết định phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ đưa vào tuyển chọn, giao trực tiếp bắt đầu...
Về việc cấp bằng bảo hộ giống cây trồng mới (kèm danh mục)
Bổ sung 71 chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo thạc sĩ năm 2011 cho Trường Đại học Lâm nghiệp
Về việc giao dự toán NSNN năm 2011(Kinh phí bổ sung sự nghiệp khoa học Công nghệ năm 2011- nhiệm vụ cấp...
Giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2011 (đợt 4) Kinh phí xử lý sự cố đê điều năm 2011 (Phụ lục kèm theo)
Tài Liệu mới
Rút ngằn thời gian vi nhân giống lan hồ điệp
Công nghệ sinh học trong nông nghiệp
Ảnh hưởng của các yếu tố sinh học lên sự nảy mầm
Kỹ thuật trồng hoa lan Mokara
Liên kết Website
Vụ khoa học công nghệ và môi trường bộ NN và PTNT
Viện công nghệ sinh học
Bộ nông nghiệp vf phát triển nông thôn
Agbiotech Việt Nam
Báo Nhân Dân
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Thống kê truy cập
Số người đang online: 28
Tổng số lượt truy cập: 1933242
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Copyright © 2011 Văn phòng Công nghệ sinh học - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Địa chỉ : Số 02 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : (024) 38436817 - Fax: (024) 38433637
Email: webmaster@agrobitotech.gov.vn. Web site: www.agrobiotech.gov.vn